Công nghệ lên men được cấp bằng sáng chế độc quyền tại Mỹ, Nhật

Tokyo Res 1000 sở hữu công nghệ được Mỹ, Nhật cấp bằng sáng chế độc quyền

Tokyo Res 1000 sở hữu công nghệ được Mỹ, Nhật cấp bằng sáng chế độc quyền

“Tìm ra được dược liệu quý đã khó, làm thế nào để có thể ứng dụng hiệu quả vào cuộc sống để chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn khó hơn” là câu nói quen thuộc của các nhà nghiên cứu về hoạt chất có nguồn gốc từ thiên nhiên. Ông Masahide Kubo, Chủ tịch Công ty Katsuragi Sangyo, Nhật Bản – cũng cùng chung trăn trở.

Từ những năm 2001, ông cùng các cộng sự tại Katsuragi đã khai phát và trồng thành công giống nấm quý hiếm Sparassis crispa bằng công nghệ khoa học. Năm 2006, ông hợp tác với các trường đại học y Dược lớn tại Nhật Bản nghiên cứu hoạt tính y học và tính năng của nấm sparassis cripa, nhất là trong lĩnh vực ung bướu. Nhưng phải sau 15 năm bỏ công nghiên cứu phát triển, năm 2016 ông mới được Nhật Bản cấp bằng sáng chế độc quyền cho công nghệ KLB-1, giúp làm tăng hàm lượng hoạt chất betaglucan lên tới gần 50%, để tăng cường miễn dịch, tiếp thêm sức mạnh cho bệnh nhân ung bướu trong công cuộc đấu tranh giành sự sống.

Nấm “thần kì”  có thực sự kì diệu như lời đồn?

Nấm Sparassis crispa còn có tên gọi là Hanabiratake ở Nhật Bản, nấm miễn dịch, “nấm thần kì”. Loại nấm có hình dạng như cây súp lơ này mọc nhiều ở những vùng ôn đới phía Bắc. Chúng chỉ mọc tự nhiên ở các vùng núi có độ cao trên 1000m so với mặt nước biển. Địa điểm ưa thích của nấm Hanabiratake là ở gốc các cây gỗ cứng như thông hay sồi. Khối lượng của một cây nấm có thể lên tới 5kg.

Từ xa xưa, các bà nội trợ Nhật đã ưa chuộng sử dụng nấm Hanabiratake trong bữa ăn hàng ngày nhờ hương vị thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng. Gần đây, nấm Sparassis crispa càng trở nên nổi tiếng hơn, không chỉ ở Nhật Bản mà còn ở trên toàn thế giới vì các tác dụng nổi bật đối với khối u ác tính. Có tới hơn 40% Beta glucan 1-3, nấm miễn dịch có khả năng ngăn chặn, tiêu diệt khối u, co nhỏ kích thước khối u mà không làm ảnh hưởng đến các tế bào lành tính; kìm hãm sự phát triển của khối u và ngăn cản khối u di căn.

Ngoài ra nấm Hanabiratake còn có khả năng chống dị ứng, tăng cường hệ miễn dịch, nhanh liền da, ngăn ngừa đột quỵ,…

Con đường đưa thảo dược quý đến tay người bệnh ung thư

Nhiều loại thảo dược trong tự nhiên có tác dụng với nhiều bệnh mạn tính, bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên, lại không thể đưa vào sản xuất và sử dụng đại trà vì khan hiếm nguồn nguyên liệu, hàm lượng hoạt chất thấp, không đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt của các nước,… Chính vì thế, để có thể đưa vào ứng dụng trong y học, các thảo dược phải trải qua nhiều quy trình phức tạp mới có thể tạo thành sản phẩm.

Nấm hanabiratake là một loại thảo dược

Nấm Hanabiratake là một loại thảo dược vô cùng quý hiếm của Nhật Bản

Sau khi các bằng chứng về tính năng của Sparassis crispa được công bố, ông Masahide Kubo, Chủ tịch Katsuragi Sangyo còn có một tham vọng lớn: Ông muốn tăng hàm lượng Beta glucan 1-3 của nấm lên cao hơn nữa bằng một quy trình lên men đặc biệt. Quy trình này sử dụng vi khuẩn Lactobacillus paracasei KLB-1.

L.paracacei là một lợi khuẩn acid lactic, hình que, không sinh bào tử, có tính chất gram dương và được sử dụng nhiều trong công nghệ lên men, chế phẩm sinh học từ sữa. Vi khuẩn này có thể tìm thấy trong tự nhiên ở rau quả lên men, thịt, sữa. Trực khuẩn L.paracacei rất có lợi cho đường tiêu hóa, có khả năng ức chế mạnh chủng vi khuẩn bệnh đường ruột Streptococcus mutans.

Lactobacillus paracasei hoạt động tối ưu ở khoảng nhiệt từ 10 – 37oC, không phát triển ở 40oC và chịu được tối đa 72oC trong vòng 40 giây. Khả năng chịu nhiệt tốt giúp L.paracacei tồn tại được trong các môi trường khí hậu khắc nghiệt.  Hiện nay có khoảng 34 loại L.paracacei khác nhau phân lập từ nhiều nguồn như sữa (16 dòng), thực vật (10 dòng), hệ tiêu hóa của cơ thể sống (8 dòng).

Lactobacillus paracasei được sử dụng trong điều trị tiêu chảy ở trẻ em hay tiêu chảy do dùng thuốc kháng sinh. Nó cũng có tác dụng tích cực trong các bệnh đầy hơi khó tiêu, viêm dạ dày – ruột, diệt vi khuẩn H.pylori gây bệnh dạ dày; bệnh nhân có lượng cholesterol cao, không dung nạp được lactose, bệnh Lyme; các bệnh lí về da như eczema, trứng cá, mẩn ngứa, da nứt nẻ,…

Katsuragi đã tiến hành hàng loạt các thử nghiệm và kết luận: Chỉ có vi khuẩn Lactobacillus paracasei KLB-1 là vi khuẩn tối ưu nhất cho việc lên men nấm Hanabiratake. Quá trình lên men kích hoạt sự sản xuất cytokin IL-8 và IL-12 trong máu, kích thích chức năng của bạch cầu trung tính chống lại sự tấn công của các tác nhân xấu vào cơ thể.

Cytokin (chất hoạt hóa tế bào) là một nhóm protein đa dạng, đa chức năng không phải kháng thể (kháng thể là những chất, khi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, cơ thể sẽ nhận biết và sinh ra kháng thể (antibody) để tiêu diệt các tác nhân gây hại, bảo vệ cơ thể). Chúng hoạt động như một chất trung gian vận hành, điều hòa hoạt động miễn dịch. Cytokin thường không được lưu trữ, chỉ tạo ra khi cần thiết trong phản ứng miễn dịch. Cytokin là một phần của một mạng lưới rộng lớn các tế bào liên quan đến nhau. Những tương tác phức tạp xảy ra, trong đó một tế bào có thể có các phản ứng khác nhau đối với cùng một cytokin tùy thuộc vào loại tín hiệu nó phát ra, có thể là cả phản ứng bảo vệ và gây hư hại.

Cytokin được sản xuất bởi nhiều loại tế bào khác nhau như bạch cầu đơn nhân, bạch cầu ưa acid, các lympho bào. Interleukin(IL) là cytokin sinh ra bởi bạch cầu.

IL-8 còn được gọi là yếu tố hóa ứng động của bạch cầu trung tính. Nó gây ra hóa động học trong các tế bào đích khiến bạch cầu trung tính và các bạch cầu hạt khác di chuyển đến vị trí viêm nhiễm. IL-8 cũng kích thích các bạch cầu tiến hành thực bào khi đến ổ bệnh. Trong các tế bào đích, IL-8 gây ra một loạt các phản ứng sinh lý cần thiết cho việc di chuyển và thực bào, chẳng hạn như tăng Ca2+ nội bào, xuất bào (ví dụ như giải phóng histamine) và phóng xuất hàng loạt các chất oxy hóa. IL-8 là một phần quan trọng trong hệ thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể trước các yếu tố nguy cơ như vi khuẩn, virus.

IL-12 là loại interleukin được tạo ra từ các đại thực bào, tế bào đuôi gai và tế bào lympho B. Nó biệt hóa các tế bào T thành tế bào Th1, thúc đẩy sự sản xuất IFN-γ (Interferon gamma) và yếu tố hoại tử khối u TNF-α từ tế bào lympho T và tế bào giết tự nhiên NK (Natural Killer Cell).

Tế bào Th (Tế bào T hỗ trợ) nhận ra kháng nguyên (phân tử kích thích các đáp ứng miễn dịch) đặc hiệu, khởi động một số quá trình miễn dịch như: lựa chọn cơ chế miễn dịch phù hợp, tăng cường hoạt động chức năng của tế bào khác,..Khi Th chuyển thành Th1, cytokin sản xuất bởi Th1 sẽ hoạt hóa đại thực bào, tham gia sản xuất tế bào lympho T gây độc tạo ra một loạt phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.

IFN-γ là “người bảo vệ đầu tiên” của cơ thể chống lại virus và sự phát triển bất thường của tế bào, chính là các tế bào ung thư. Interferon thuộc hệ thống miễn dịch không đặc hiệu (con người sinh ra đã có hệ thống này), được tạo ra khi tế bào cảm thụ với virus và tế bào bất thường. Bằng cách ức chế sự hoạt động của ARN thông tin khiến chúng không thể truyền đạt lại thông tin di truyền, sự sản sinh các tác nhân bị ức chế, khiến các tế bào ác tính của khối u bị hạn chế phân hóa, nhân lên. IFN-γ cũng hoạt hóa tế bào NK để chúng hoạt động có chọn lọc hơn, chỉ tiêu hủy các tế bào ung thư mà không làm tổn hại các tế bào bình thường.

TNF-α hay yếu tố hoại tử khối u là dạng protein nhiều tính chất khác biệt so với các cytokin khác. Nó có khả năng hoạt hóa nội mô mạch máu mạnh mẽ và tăng tính thấm thành mạch, gây ra hiệu ứng viêm cục bộ. TNF-α còn đóng vai trò trong phản ứng chết tế bào theo lập trình. Đây là những cơ chế tích cực của cơ thể chống lại ung thư.

IL-12 cũng có có khả năng chống quá trình tạo mạch máu, khiến khối u không thể phát triển và bị teo nhỏ. Cơ chế là sự tăng sản xuất IFN-γ. Nhờ cơ chế tạo các đáp ứng miễn dịch và chống tạo mạch máu, nhiều nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu về tác dụng chống khối u ác tính của IL-12 và mang lại nhiều tín hiệu khả quan.

Công nghệ lên men lactic độc quyền bằng vi khuẩn Lactobacillus paracasei KLB-1 giúp tăng hàm lượng Beta glucan 1-3 lên 47,6% trong bột nấm khô, hàm lượng cao nhất từ trước tới nay. Quá trình lên men được thực hiện nghiêm ngặt và hoàn toàn bí mật. Năm 2016, công nghệ này được cấp bằng sáng chế độc quyền số 58937772. Tháng 5/2019, công nghệ lên men nấm miễn dịch Hanabiratake (Sparassis crispa) bằng vi khuẩn Lactobacillus paracasei KLB-1 được Mỹ cấp bằng sáng chế số US00PP30282P3.

 

 

 

 

5/5 (1 Review)

Để tìm mua sản phẩm Tokyo Res 10000, vui lòng xem điểm bán tại đây

Để được tư vấn miễn phí, hãy gọi tổng đài 1800 96 96 99 hoặc 0333246886 (Ngoài giờ hành chính)

Ý Kiến Chuyên Gia
Báo chí nói về gì về chúng tôi

Đặt mua Tokyo Res 1000 toàn quốc

Bấm vào đây
1800 96 96 99 (Miễn cước)

Danh sách nhà thuốc bán Tokyo Res 1000

Bấm vào đây
Tokyo Res-1000 – Thực phẩm hỗ trợ tăng cường sức khỏe, sức đề kháng cho người bệnh hóa xạ trị

* Điền thông tin để đặt hàng trực tuyến.

Mua 2 hộp trở lên được miễn phí vận chuyển





Tổng tiền:
Sản phẩm hỗ trợ điều trị ung thư Tokyores1000
Lý do khách hàng tin tưởng
Tokyo Res-1000
Ức chế thành công sự tăng sinh mạch nhằm tiêu diệt tế bào ung thư và làm giảm kích thước khối u
Hỗ trợ ngăn ngừa sự tái phát ung bướu và xâm lấn di căn của tế bào ung thư đến các cơ quan mô phủ tạng lành tính khác
Được chứng minh hiệu quả lâm sàng trên cơ thể người, được Mỹ - Nhật cấp bằng sáng chế.
Hoạt chất Beta-Glucan(1-3) 47,6%-KLB-1 kích hoạt hệ thống miễn dịch tự thân làm gia tăng số lượng tế bào NK-T gấp 15-20 lần trong hệ bạch huyết, làm tăng khả năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư
Giảm tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị sau 15 ngày sử dụng
Được Bộ Y tế Việt Nam thẩm định và cấp giấy phép lưu hành toàn quốc